Máy đánh mã morse: các loại khóa
Khóa morse là công tắc biến chuyển động của tay bạn thành chấm và gạch. Có bốn loại chính, từ khóa thẳng đơn giản đến paddle tự gửi chấm hoàn hảo. Bạn có thể thử ngay với khóa trên màn hình trong công cụ dịch.
Khóa thẳng
Khóa điện báo cổ điển: một thanh có núm ở trên và tiếp điểm ở dưới. Nhấn xuống thì mạch đóng; thả tay thì lò xo mở mạch ra. Bạn tự tạo từng chấm và gạch, nên nhịp hoàn toàn nằm ở tay bạn. Khóa điện báo đầu tiên do Alfred Vail, người cộng sự của Samuel Morse, phát minh. Người mới gửi khoảng 5 từ mỗi phút bằng khóa thẳng, còn điện báo viên giỏi lên tới khoảng 30.
Khóa kiểu Mỹ thường có núm thấp và dẹt, còn khóa kiểu châu Âu có núm cao hình cầu. Khóa đường sắt ở Bắc Mỹ còn có thêm một thanh nối tắt, cần thiết do cách đi dây của các tuyến đó.
Sideswiper
Loại thay thế phổ biến đầu tiên di chuyển sang hai bên thay vì lên xuống, với một tiếp điểm ở mỗi bên và lò xo đưa nó về giữa. Nó ra đời một phần để gửi nhanh hơn, một phần để tránh “glass arm” (“cánh tay thủy tinh”), chấn thương do lặp lại động tác ở những điện báo viên phải nhấn khóa thẳng suốt ngày.
Khóa bán tự động (bug)
Một khóa gạt sang hai bên có cơ cấu lò xo: đẩy cần về một phía thì một thanh rung gửi ra chuỗi chấm đều nhịp; đẩy về phía kia thì bạn tạo gạch bằng tay. Điện báo viên giỏi vượt 40 từ mỗi phút với bug.
Paddle và keyer điện tử
Từ giữa thế kỷ 20, phần lớn điện báo viên dùng paddle nối với keyer điện tử, là một hộp riêng hoặc mạch có sẵn trong máy vô tuyến. Khóa một paddle gửi chấm về một phía và gạch về phía kia. Khóa hai paddle, hay iambic, có hai cần: bóp cả hai thì keyer gửi chấm và gạch xen kẽ, giúp gửi rất nhanh những chữ như C (−·−·). Keyer canh nhịp mọi phần tử một cách hoàn hảo.
Thử một khóa ngay
Công cụ dịch có một khóa trên màn hình: mở Gõ, giữ lâu để có gạch và chạm nhanh để có chấm, hoặc dùng phím cách trên máy tính. Hướng dẫn gõ mã morse giải thích nhịp gõ.
Nguồn
Wikipedia tiếng Anh, Telegraph key.
Thêm công cụ mã morse
Gửi tín hiệu
Thêm