Bảng chữ cái NATO: công cụ đánh vần
Gõ một cái tên, một hô hiệu hay một mã đặt chỗ để đánh vần nó theo cách của phi công, quân nhân và điện báo viên vô tuyến. Mỗi chữ cái có từ mã, cách đọc và mã morse của nó. Dán các từ mã vào để lấy lại chữ cái.
Bảng chữ cái NATO, kèm mã morse
Cách đọc theo phiên âm của ICAO: âm tiết viết hoa là âm được nhấn. Chạm vào một từ mã để nghe nó và mã morse của nó.
Bảng chữ cái đánh vần dùng để làm gì
Trên sóng vô tuyến hay đường dây điện thoại ồn, B, D, P và V nghe rất giống nhau. Mỗi chữ cái có một từ mã riêng thì hết nhầm lẫn: không ai nghe “Bravo” thành “Delta”. Cùng 26 từ này được dùng trong hàng không, hàng hải, quân đội và giới vô tuyến nghiệp dư, vì thế bảng chữ cái có nhiều tên gọi: NATO, ICAO, ITU hay bảng chữ cái đánh vần vô tuyến điện thoại quốc tế.
Vì sao Alfa và Juliett được viết như vậy
Alfa được viết với chữ f và Juliett với hai chữ t là có chủ ý. Người nói một số ngôn ngữ có thể không đọc ph thành f, còn người nói tiếng Pháp có thể coi một chữ t đơn ở cuối là âm câm. Cách viết chính thức giúp hai từ này được mọi người đọc giống nhau.
Chữ số
Chữ số được đọc như tiếng Anh, với vài thay đổi để nghe rõ hơn qua sóng vô tuyến: three là “tree”, four là “fower”, five là “fife” và nine là “niner”. Bảng ở trên ghi cách đọc theo ICAO cho từng số.
Bảng chữ cái đánh vần và mã morse
Cả hai làm cùng một việc trên hai kênh khác nhau. Từ mã đánh vần chữ cái bằng giọng nói; mã morse đánh vần bằng âm thanh hoặc ánh sáng. Điện báo viên vô tuyến dùng cả hai: trên CW (mã morse), hô hiệu được gửi bằng mã, còn khi nói thì được đánh vần bằng từ mã. Mỗi thẻ ở trên đều có cả hai, để bạn học cùng lúc.
Lịch sử và nguồn
Bảng chữ cái được xây dựng đầu những năm 1950 và được Tổ chức Hàng không Dân dụng Quốc tế đưa vào sử dụng ngày 1 tháng 3 năm 1956, thay cho các bảng cũ hơn như Able, Baker. Từ mã và cách đọc trên trang này là của ICAO, theo bảng trong bài NATO phonetic alphabet của Wikipedia tiếng Anh.
Thêm công cụ mã morse
Mã khác
Thêm